Qua kiểm tra theo dõi đồng ruộng của cán bộ khuyến nông hiện tại có các loại sâu bệnh hại chính sau, bà con cần đặc biệt chú ý các đối tượng: Sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu - rầy lưng trắng, bệnh bạc lá - đốm sọc vi khuẩn, bệnh khô vằn, bệnh thối thân và chuột.
1. Sâu cuốn lá nhỏ
Sâu cuốn lá thường gây hại mạnh trên những ruộng lúa xanh tốt, rậm rạp, bón thừa đạm. Sâu non ăn biểu bì lá, làm lá bị trắng, xơ xác, giảm khả năng quang hợp, đặc biệt nguy hiểm ở giai đoạn làm đòng – trỗ.
Biện pháp phòng trừ: Thường xuyên kiểm tra ruộng, nhất là những ruộng xanh tốt. Không bón thừa phân đạm; bón phân cân đối, tăng cường kali. Khi sâu non xuất hiện với mật độ đến ngưỡng phòng trừ, sử dụng một trong các thuốc: Incipio 200SC, EminGold 160SC, Obaone 95WG, Virtako 40WG, Sunset 150SC, Indogold 150SC, August 350WG, Chlorferan 240SC, Director 70EC.... hoặc thuốc có cùng hoạt chất được đăng ký sử dụng trên lúa. Sau phun 3–5 ngày cần kiểm tra lại ruộng; nếu sâu còn mật độ cao thì xử lý nhắc lại lần 2.

Cán bộ Trạm bảo vệ và kiểm dịch thực vật khu vực I, hướng dẫn nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo phương pháp 4 đúng.
2. Rầy nâu, rầy lưng trắng
Rầy thường tập trung ở phần gốc lúa, chích hút nhựa làm cây sinh trưởng kém, vàng lá; khi mật độ cao có thể gây hiện tượng “cháy rầy”, làm chết từng đám hoặc cả ruộng.
Biện pháp phòng trừ: Thường xuyên vạch gốc lúa kiểm tra rầy, nhất là các ruộng đã từng bị rầy gây hại. Khi mật độ rầy đạt khoảng 25 con/khóm (tương đương 1.000–2.000 con/m²) Có thể sử dụng các thuốc lưu dẫn như: Chess 50WG, Actara 25WG, Chersieu 50WG, Sutin 5EC, Nouvo 3.6EC. Một số thuốc khác được hướng dẫn sử dụng gồm: Bassa 50EC, Butyl 10WP, Applaud 25WP, Florid 700WP, Nibas 50EC, Virtako 40WG. Khi phun cần hướng vòi thuốc vào gốc lúa, nơi rầy tập trung, giữ mực nước ruộng khoảng 2–3 cm để nâng cao hiệu quả. Nếu sau 3–5 ngày rầy vẫn còn cao, cần xử lý nhắc lại theo hướng dẫn kỹ thuật.
3. Bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn
Bệnh thường phát sinh, lây lan mạnh sau các đợt mưa rào, mưa lớn kèm dông, đặc biệt trên ruộng trũng, ruộng xanh tốt, bón thừa đạm.
Biện pháp phòng trừ: Khi phát hiện bệnh, duy trì mực nước ruộng khoảng 2–3 cm. Tạm dừng bón phân hóa học, phân bón qua lá và các chất kích thích sinh trưởng.
Có thể sử dụng Sasa 25WP, Avalon 8WP, Anti-Xo 200WP, Physan 20SL, Kasumin 2SL... hoặc thuốc có cùng hoạt chất được phép sử dụng. Phun vào chiều mát, tránh phun lúc sáng sớm còn nhiều sương. Nếu bệnh nặng, có thể phun nhắc lại lần 2 sau 5–7 ngày.
4. Bệnh khô vằn
Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nóng ẩm, ruộng lúa xanh tốt, rậm rạp và bón nhiều đạm. Bệnh thường gây hại mạnh từ giai đoạn làm đòng đến chắc xanh.
Biện pháp phòng trừ: Bón phân cân đối, không bón thừa đạm. Điều tiết nước hợp lý, hạn chế để ruộng quá rậm. Khi tỷ lệ dảnh bị bệnh đạt khoảng 20% trở lên, có thể sử dụng các thuốc như: Anvil 5SC, Tilt Super 300EC, Royal 350EC , Nevo 330EC hoặc thuốc có cùng hoạt chất được đăng ký sử dụng trên lúa.
5. Bệnh thối nhũn (thối thân)

Cán bộ Trung tâm Dịch vụ công xã Tân Long thăm đồng và hưỡng dân cho bà con nhân dân cách phòng trừ sâu bệnh hại lúa
Bệnh thường gây hại nặng ở những chân ruộng thấp, bị ngập úng kéo dài. Biện pháp phòng trừ: Khẩn trương tiêu thoát nước, không để ruộng ngập úng kéo dài. Có thể rắc vôi bột khoảng 6–8 kg/sào theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn. Có thể sử dụng Agrilife 100SL, Sapol 700WP, Anti-Xo 200WP, Xanthomix 20WP hoặc thuốc có cùng hoạt chất được phép sử dụng.
6. Chuột hại lúa
Chuột thường gây hại mạnh ở giai đoạn lúa làm đòng và trỗ, đặc biệt tại khu vực ven bờ, gò cao, mương máng. Biện pháp phòng trừ: Tổ chức diệt chuột đồng loạt, tập trung theo khu vực, không làm riêng lẻ từng hộ. Phát quang bờ ruộng, bụi rậm, thu dọn nơi chuột cư trú. Sử dụng biện pháp và thuốc diệt chuột được phép sử dụng, theo đúng hướng dẫn của cơ quan chuyên môn; tuyệt đối không sử dụng điện hoặc các biện pháp gây nguy hiểm cho người và vật nuôi.